
Vận động dưỡng sinh là cách vận động để bồi dưỡng sức khoẻ, phòng bệnh và trị bệnh mạn tính. Nó giúp chúng ta mạnh mẽ về thể xác, vững về tinh thần và chủ động với cuộc đời của chúng ta.
Khi bệnh, chúng ta tìm tới thầy thuốc và thuốc. Nhưng thường quên mất sức lực tiềm tàng của cơ thể để cùng chủ động giải quyết bệnh mạn tính. Nhìn rõ cơ chế của vận động và từng động tác giúp chúng ta có niềm tin vào tập luyện và chủ động nâng cao sức khoẻ mỗi ngày.
Vận động dưỡng sinh có tác dụng:
Cung cấp đủ dinh dưỡng và oxy: tế bào phải được “ăn” và thở cho tốt.
Thần kinh: giúp chỉ huy quá trình hưng phấn và ức chế tốt, để tăng cường sức và tiết kiệm sức (thức, ngủ và thư giãn)
Luyện tập chống xơ cứng, giảm đau mỏi, cải thiện tầm vận động.
Và Hoà tâm.
I. TẬP THỞ: Vì hơi thở là điểm bắt đầu và kết thúc của sự sống.
1. Cơ chế, tác dụng của tập thở:
– Với tây y, luyện thở giúp tối đa oxy cho nội tạng và điều hoà sự rối loạn của thần kinh thực vật.
– Với đông y, tập thở tác động tới khí như thế nào, triệu chứng? Bạn đọc có thể tìm hiểu qua bài viết: “Hơi thở – Sự trở về trọn vẹn” tại link này.
2. Phương pháp luyện thở dành cho người mới:
Bài 1: Quan sát hơi thở tự nhiên.
Cách tập: Ghi nhận: hơi hít vào, hơi thở ra, bụng chuyển động thế nào.
Thời điểm: khi nào cũng được (trước khi ngủ, khi vừa thức dậy, khi đang làm việc)
Liều lượng: chỉ vài hơi thở là đủ. Duy trì ít nhất 1 ngày.
Bài 2: Tập thở bụng.
Cách tập:
– Chọn tư thế: Ngồi thẳng lưng chân xếp bằng thoải mái, Ngồi tựa lưng vào tường (nếu cột sống không ngồi thẳng lưng được vài phút), Nằm thẳng trên giường cứng (nếu gặp khó khăn khi thở trong tư thế ngồi).
– Đặt tay lên bụng, cảm nhận hơi thở: Thở ra, bụng xẹp – Hít vào – bụng phồng.
– Thời gian hít vào – thở ra là bằng nhau.
– Khi mới bắt đầu, tập ít gắng sức.
– Khi đã quen, cảm thấy dễ thở thì bắt đầu xẹp – phồng bụng lên nhiều.
– Nếu thấy khó thở, thì quay lại bài 1 duy trì trong ít nhất 1-2 tuần.
Thời điểm: Sau khi thực hiện bài 1, tập bài 2 trong vài phút (khi mới: 1,2 phút, khi đã quen: có thể 3,4 phút) tuỳ sức.
Liều lượng: Duy trì trong ít nhất 3 ngày, tới khi thấy hơi thở sâu và có thể tự thở sâu khi đang làm việc, đi lại, thì mới chuyển sang bài 3.
Bài 3: Thở gắng sức
Cách tập:
– Chọn tư thế như trên.
– Một cách từ từ Thở ra nhiều hơn, xẹp bụng xuống, sau đó, hít vào dài hơn – bụng phồng và phồng lồng ngực lên (không ưỡn lưng/rướn vai lên). Lặp lại: thở ra, xẹp bụng xuống, hạ ngực xuống – hít vào, bụng phồng, ngực phồng lên.
Thời điểm: khi đang khoẻ mạnh, tỉnh táo
Liều lượng: sau tập bài 1 và bài 2, tập bài 3 trong 1-2 phút để tối đa khả năng hít thở.
Chống chỉ định: nhịp tim nhanh, sốt cao, đang xúc cảm/căng thẳng
3. Câu chuyện đời bệnh nhân và đời chúng ta:
Câu chuyện về Bệnh nhân K vòm họng thấy sự kì diệu từ điều đơn giản có mặt bên đời ta: hơi thở. Bạn đọc có thể xem bài “Kể chuyện tập thở”.
Không chỉ vì bệnh, vì khó thở mới tập thở. Tập thở giúp sự sống của chúng ta tự nhiên, khí huyết hoà, để làm việc cống hiến cho cuộc đời.
Mình thấy hơi thở của mình khi nào?
– Khi bắt mạch cho bệnh nhân, thấy ra hơi thở của chính mình sẽ thấy ra mạch của bệnh nhân. Đó là khoảnh khắc chợt thấy mạch thai nhỏ bé, bên cạnh mạch của mẹ, tuy chỉ vài ngày tuổi, và không ở nhị xích.
– Khi nấu một bài thuốc, cầm từng vị thuốc, rửa, phơi, tầm, sao… và hoà quyện hơi thở vào toàn bài. Đứng dưới nắng phơi thuốc, đảo thuốc, nóng bừng cả người, và cảm thấy hơi thở rõ ràng hơn bao giờ hết.
Trải nghiệm cá nhân thì không hẳn chuẩn mực, nhưng chân thật, nên chia sẻ đôi lời tới bạn đọc.
Chúc bạn một hơi thở, tâm thanh tịnh, một ngày an
Tp.HCM, 20/01/2024
Y sĩ YHCT Nguyễn Thị Kiều Trinh
